Sunday, November 28, 2021
Homesự thích hợpĐiều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ khuyến khích phù...

Điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ khuyến khích phù hợp với từng vùng mức sinh


Việt Nam đã kiểm soát được tốc độ gia tăng quy mô dân số, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hạn chế sinh hơn 20 triệu người trong hơn 25 năm qua.

Nước ta đã đạt mức sinh thay thế vào năm 2006, trước 10 năm so với mục tiêu đề ra và tiếp tục duy trì đến nay, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em và nâng cao chất lượng dân số, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em liên quan đến thai sản. Thành công của công tác dân số đã tạo nên thời kỳ cơ cấu dân số vàng, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam qua hơn 30 năm đổi mới.

Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình Nguyễn Doãn Tú, sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình đã đạt được nhiều kết quả to lớn, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Mức sinh giữa các vùng miền còn chênh lệch đáng kể. Ảnh: Minh Quyết/TTXVN

Tuy nhiên, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình vẫn còn nhiều hạn chế. Mức sinh giữa các vùng miền còn chênh lệch đáng kể. Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng; chưa có giải pháp đồng bộ phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng và thích ứng với già hóa dân số. Người ít có điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con còn đẻ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng dân số. Chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp. Tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao. Tầm vóc, thể lực người Việt Nam chậm được cải thiện. Tuổi thọ bình quân tăng trưởng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp hơn so với nhiều nước…
Để giải quyết toàn diện các vấn đề phát sinh của công tác dân số trong thời kỳ mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã đề ra Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong thời kỳ mới. Chính phủ ban hành Nghị quyết 137/NQ-CP, ban hành Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW. Chính phủ giao cho 12 bộ, ban, ngành xây dựng 42 chương trình, luật, đề án, chương trình hành động nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 21-NQ/TW.
Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 21 -NQ/TW, một số văn bản luật, chiến lược, chương trình, đề án đã được ban hành như: Bộ Luật Lao động sửa đổi; Chiến lược dân số đến năm 2030; Chiến lược truyền thông dân số đến năm 2030; Chương trình điều chỉnh mức sinh giữa các vùng, các đối tượng đến năm 2030; Chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tới năm 2030; chương trình nâng cao chất lượng dân số, tầm soát sàng lọc bệnh tật trước sinh và sơ sinh. Thời gian tới, mô hình tổ chức bộ máy làm công tác dân số, cơ chế phối hợp liên ngành, mô hình cộng tác viên làm công tác dân số, gia đình trẻ em sẽ được hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành.
Ông Nguyễn Doãn Tú khẳng định, những chương trình, đề án được xây dựng theo Nghị quyết 137/NQ-CP chính là những nội dung quan trọng của công tác dân số trong thời kỳ mới, đặc biệt là trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.

Theo đó, để khắc phục tình trạng chênh lệch mức sinh giữa các vùng, địa phương, Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình đề ra các mục tiêu: Duy trì vững chắc mức sinh thay thế, khắc phục chênh lệch mức sinh giữa các địa phương; xây dựng hệ thống thông điệp truyền thông, nội dung tuyên truyền vận động riêng cho từng vùng mức sinh khác nhau thay cho một nội dung tuyên truyền chung cho cả nước; điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ khuyến khích phù hợp với từng vùng mức sinh.

Đặc biệt, để giải quyết bài toán khó khăn trong việc nâng mức sinh, tại những vùng có mức sinh thấp, Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình sẽ triển khai các giải pháp tổng hợp, đồng bộ, hiệu quả để khuyến khích người dân sinh đủ hai con. Trong đó, Tổng cục đề xuất bãi bỏ các quy định của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cộng đồng tại địa phương liên quan đến mục tiêu giảm sinh; sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con; chú trọng các đối tượng ưu tiên, người lao động khu công nghiệp, khu kinh tế để khuyến khích sinh đủ hai con tại địa phương.

Chương trình điều chỉnh mức sinh giữa các vùng, các đối tượng đến năm 2030 đặt mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc, phấn đấu tăng mức sinh ở những địa phương đang có mức sinh thấp, giảm mức sinh ở những địa phương đang có mức sinh cao góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Mục tiêu cụ thể, phấn đấu đến năm 2030, tăng 10% tổng tỷ suất sinh ở các tỉnh, thành phố có mức sinh thấp (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có dưới 2 con); giảm 10% tổng tỷ suất sinh ở các tỉnh, thành phố có mức sinh cao (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có trên 2,2 con); duy trì kết quả ở những tỉnh, thành phố đã đạt mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có từ 2 – 2,2 con).



Supply hyperlink

NHỮNG BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Phổ biến nhất